© Copyright Bài Học Hay

Hãy chứng minh: Từ sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 đến trước đông - xuân 1953 - 1954, quân dân ta luôn giữ vững và phát triển thế chủ động đánh địch trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Thứ sáu - 13/03/2020 11:32
Từ sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 đến giữa năm 1953, quân dân ta đã giữ vững và phát huy thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuẩn bị cho chiến dịch lớn hơn, giành thắng lợi quyết định, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi.
Hãy chứng minh: Từ sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 đến trước đông - xuân 1953 - 1954, quân dân ta luôn giữ vững và phát triển thế chủ động đánh địch trên chiến trường chính Bắc Bộ.

Sau chiến dịch Biên giới, quân ta chủ động mở nhiều chiến dịch tiến công và phản công địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, cả ở đồng bằng, trung du, rừng núi. Điều này được thể hiện ở một số sự kiện chủ yếu sau:

+ Từ cuối Năm 1950 đến giữa năm 1951, quân ta liên tục mở ba chiến dịch: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (Trung du) đánh vào hệ thông phòng ngự của địch ở Vĩnh Yên, Phúc Yến, diệt nhiều cứ điểm quan trọng; Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Đường số 18) đánh vào các đồn bốt của địch từ Phả Lại, qua Đông Triều đến Uông Bí; Chiến dịch Quang Trung (Hà Nam Ninh) tiến công địch tại khu vực phía Nam Liên khu III. Đây là những chiến dịch tiến công quy mô lớn của quân ta đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằng, đã loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực địch, phá vỡ từng mảng kế hoạch bình định của chúng. Nhưng do địa bàn trung du và đồng bằng không có lợi cho ta, mà có lợi cho địch, nên kết quả của các chiến dịch còn hạn chế.

+ Tiếp tục thực hiện phương châm chiến lược “đánh chắc thắng” và phương hướng chiến dịch “tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu”, ta chủ trương mở chiến dịch ở rừng núi:

+ Chiến dịch Hòa Bình: Tháng 11 - 1951, thực dân Pháp mở cuộc hành quân ra Hòa Bình nhằm nối lại hành lang Đông Tây, chia cắt Việt Bắc với Liên khu IV. Để tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch bình định của chúng ở đồng bằng Bắc Bộ và đẩy mạnh chiến tranh du kích, ta chủ động đón đánh địch ở mặt trận Hòa Bình. Sau hơn hai tháng chiến đấu ta đã giải phóng toàn bộ khu vực Hòa Bình - Sông Đà 2000 km2 với 15 vạn dân, các căn cứ du kích được mở rộng. Chiến thắng Hòa Bình đã thể hiện nghệ thuật chỉ đạo phối hợp chiến đấu giữa mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch.

+ Thu - đông 1952, Đảng ta quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng dân, đất đai. Chiến dịch kết thúc thắng lợi, ta đã giải phóng 28.500 km2 với 25 vạn dân gồm toàn tỉnh Nghĩa Lộ, gần hết tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản)... phá một phần âm mưu lập “xứ Thái tự trị” của địch, nối liền với căn cứ địa Việt Bắc ở phía Đông và Thượng Lào ở phía Tây, tạo thành thế chiến lược liên hoàn mới cho ta.

+ Xuân - hè 1953, phối hợp với quân dân Lào, ta mở chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Sau hơn một tháng chiến đấu (4 - 1953 đến 5 - 1953) chiến dịch thắng lợi, ta giải phóng toàn bộ tỉnh sầm Nưa, một phần Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Xalì với trên 30 vạn dân. Chiến thắng này đã tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào.

Như vậy, từ sau chiến dịch Biên giới thu - đông năm 1950 đến giữa năm 1953, quân dân ta đã giữ vững và phát huy thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, chuẩn bị cho chiến dịch lớn hơn, giành thắng lợi quyết định, kết thúc kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây